Tư liệu, bài viết

HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN Ở TRƯỜNG THCS BẮC LÝ

đăng 07:21, 21 thg 8, 2014 bởi THCS Bắc Lý

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN Ở TRƯỜNG THCS BẮC LÝ

                                                 Ngô văn Hằng – Hiệu trưởng trường THCS Bắc Lý

         Học sinh trường cấp 2 Bắc Lý, nay là trường THCS Bắc Lý mang đậm nét học sinh vùng nông thôn khu vực châu thổ ven sông Hồng, hầu hết các em được sinh ra và lớn lên trong gia đình thuần nông, kinh tế còn nhiều khó khăn, nhận thức của người dân còn có những mặt hạn chế; gia đình các em thường xuyên bận công việc sản xuất nên thời gian chăm sóc con và sự quan tâm đến tình cảm, tâm lý của các em còn nhiều hạn chế, vì vậy các em rất cần có chỗ dựa tin cậy để chia sẻ, hỗ trợ kịp thời. Mặt khác, do sống ở vùng nông thôn, ít có điều kiện được giao lưu rộng, nên các em có phần  nhút nhát, thiếu tự tin, khả năng sử lý các tình  huống còn gặp rất nhiều khó khăn. Với đặc thù trên, trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục, nhà trường xác định: Hoạt động tư vấn, hỗ trợ các em cần luôn song hành với các hoạt động giáo dục và là một phần của hoạt động giáo dục. Đồng thời để hoạt động tư vấn đem lại hiệu quả, cần thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực tư vấn cho đội ngũ giáo viên, huy động, lôi cuốn các lực lượng phù hợp tham gia hoạt động tư vấn cùng nhà trường. 

I. Xây dựng lực lượng tư vấn.

            1. Xác định lực lượng, nội dung tư vấn:

            1.1. Lực lượng tư vấn ngoài nhà trường:

            * Nhóm chuyên gia:

            - Các nhà Khoa học, cán bộ nghiên cứu cơ quan Bộ, Cục, Vụ, Viện đã từng chỉ đạo, nghiên cứu, gắn bó với Bắc Lý; cựu cán bộ quản lý, giáo viên Bắc Lý chuyển công tác, chuyển ngành, nhưng vẫn thường xuyên gắn bó, theo dõi, giúp đỡ Bắc Lý. 

            - Lực lượng nhà giáo về hưu khu vực Bắc Lý và gần đây là Câu lạc bộ nhà giáo hưu trí khu vực Bắc Lý: bao gồm giáo viên các trường chuyên nghiệp, THPT, THCS, Tiểu học; cán bộ Phòng Giáo dục đã nghỉ hưu, thuộc địa bàn xã Bắc Lý và các xã lân cận. (Câu lạc bộ này hiện đang sinh hoạt thường kỳ tại địa điểm trường THCS Bắc Lý)

             Lực lượng trên giúp đỡ, tư vấn cho nhà trường những nội dung sau:

            + Tư vấn định hướng chiến lược phát triển nhà trường ( dài hạn, từng thời kỳ)

            + Tư vấn triển khai các hoạt động giáo dục.

            + Tư vấn triển khai tổ chức các sự kiện.

            + Hỗ trợ bồi dưỡng năng lực tư vấn cho đội ngũ  cán bộ quản lý, giáo viên,  nhân viên.

            + Tư vấn cho học sinh, phụ huynh.

            Mỗi khi câu lạc bộ sinh hoạt, nhà trường cử đại diện tham dự, thông báo tình hình, kế hoạch phát triển nhà trường và xin ý kiến tư vấn. Hoặc mỗi khi gặp vướng mắc, trở ngại, nhà trường chủ động liên lạc xin ý kiến tư vấn. Mời về trường trao đổi với giáo viên về kinh nghiệm tư vấn, hoặc trực tiếp tư vấn cho học sinh, phụ huynh.

* Nhóm phối hợp.

            - Lực lượng cựu học sinh: gồm cựu học sinh chưa vào hội và thành viên Hội cựu học sinh Bắc Lý đã nghỉ hưu hoặc đang công tác. (hiện nay hội Hội cựu học sinh Bắc Lý sinh hoạt thường kỳ tại địa điểm trường THCS Bắc Lý).

            - Lực lượng phối hợp tham gia các hoạt động giáo dục cùng nhà trường ở địa phương - Đội ngũ "người thầy thứ hai".

            + Các đối tác được nhà trường mời đến trường tham gia các hoạt động giáo dục.

            + Các đối tác trường đưa học sinh đến cơ sở của họ để hoạt động thực tế

            + Các lực lượng thường xuyên kết hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục trong, ngoài nhà trường: các tổ chức đoàn thể, xã hội.

            Đối với lực lượng này, nhà trường có mối liên lạc và huy động sự hỗ trợ về tư vấn trong từng nội dung, đối tượng cụ thể.

VD: Mời cựu học sinh về trường tư vấn cho học sinh.

            1.2. Lực lượng tư vấn trong nhà trường: Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ( lực lượng quan trọng nhất), nhân viên. Học sinh có khả năng tư vấn.

            1.3. Lực lượng tư vấn trong gia đình: Mẹ - người gần gũi nhất, Bố - chỗ dựa tin tưởng nhất; anh, chị, em - như người bạn dễ chia sẻ..

            2. Bồi dưỡng năng lực tư vấn cho lực lượng tư vấn:

Mục đích: Bồi dưỡng để mỗi cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên là một "nhà" tư vấn và những thành viên thuộc nhóm lực lượng phối hợp có khả năng tư vấn nhất định.

Phương châm:

+ Để mọi hoạt động tư vấn được thống nhất đúng hướng ( hướng đích) thì mọi lực lượng tư vấn phải hiểu rõ và thống nhất mục tiêu, nội dung, phương thức, phương pháp giáo dục của nhà trường. Để có được điều này: nhà trường tổ chức họp phụ huynh dịp đầu mỗi năm học, tận dụng "tiếng nói" của trường trong các Hội nghị của Đảng, chính quyền, đoàn thể mà thành viên nhà trường tham gia, hoặc trước khi triển khai các hoạt động phối hợp; nhà trường đưa ra mục tiêu, nội dung, phương thức, phương pháp giáo dục để mọi lực lượng nắm rõ và thống nhất, đồng thuận ( tùy tính chất buổi làm việc mà nội dung trên được đưa ra ở mức độ thông báo, hay bàn bạc, thảo luận) 

+ Khai thác triệt để, tận dụng không gian, thời gian, các mối quan hệ, các cách thức và phương tiện để các lực lượng phối hợp giáo dục hiểu về nhà trường, hiểu những khó khăn mà học sinh thường gặp trong mỗi giai đoạn, đồng thời có được năng lực tư vấn nhất định, để có thể tư vấn cho học sinh. Một điều nhà trường  thấy thuận lợi là bất cứ Hội nghị hoặc diễn đàn nào, khi có vấn đề về giáo dục thì các đại biểu đều rất quan tâm, chú ý và nếu được trao đổi thì thảo luận sôi nổi ( Vì vấn đề giáo dục luôn diễn ra hằng ngày, liên quan đến cháu, con, em các đại biểu).

2.1. Bồi dưỡng năng lực tư vấn cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và những học sinh có khả năng tư vấn trong nhà trường.

            - Tự bồi dưỡng: Khơi dậy ý thức tự học hỏi, tự bồi dưỡng, tự tìm học đối với mỗi giáo viên ngay từ những ngày đầu về trường công tác, tạo môi trường, bầu không khí tâm lý thuận lợi để mỗi giáo viên có điều kiện tự bồi dưỡng năng lực tư vấn.

            - Thông qua tổ chức:

+ Thông qua bồi dưỡng chuyên đề; hoạt động của tổ chủ nhiệm, của hội đồng sư phạm theo chuyên đề về tư vấn.

+ Thông qua hoạt động của nhóm tư vấn do nhà trường thành lập: gồm đại diện lãnh đạo trường, tổ trưởng chủ nhiệm, Tổng phụ trách Đội, Bí thư chi đoàn và một số giáo viên có uy tín, năng lực tư vấn tốt, giáo viên chủ nhiệm có học sinh ( phụ huynh) cần được tư vấn hỗ trợ.

            - Khai thác, tranh thủ sự giúp đỡ, tư vấn của "nhóm chuyên gia": các dịp cá nhân,  nhóm giáo viên hoặc cả Hội đồng sư phạm được gặp mặt, tiếp xúc với thành viên thuộc nhóm chuyên gia tư vấn ( đã nêu ở trên), nhà trường luôn tranh thủ để "nhóm chuyên gia" truyền đạt lại những kinh nghiệm trong hoạt động tư vấn cho đội ngũ giáo viên.

VD: Các dịp tổ chức Khai giảng hằng năm, các buổi lễ đón Huân chương, các dịp kỉ niệm lớn, sau khi xong việc nhà trường tổ chức để nhóm chuyên gia tư vấn trao đổi với cán bộ, giáo viên những kinh nghiệm liên quan đến hoạt động tư vấn.

- Chủ động mời các thành viên thuộc nhóm chuyên gia tư vấn về trao đổi kinh nghiệm về công tác tư vấn, về xử lý tình huống trong quá trình triển khai các hoạt động giáo dục.

- Bồi dưỡng năng lực tư vấn cho cá nhân hoặc nhóm học sinh: Thông qua hoạt động tư vấn, phát hiện những cá nhân, nhóm học sinh có khả năng trong các lĩnh vực, bồi dưỡng thêm cho các em khả năng tư vấn để các em có thể tư vấn cho các bạn khác.

2.2. Bồi dưỡng năng lực tư vấn cho lực lượng "người thầy thứ hai" (lực lượng thường xuyên phối hợp với nhà trường triển khai các hoạt động giáo dục):

            Bất cứ hoạt động nào, học sinh cũng cần có sự tư vấn, hỗ trợ để thúc đẩy hoạt động đã tốt trở nên tốt hơn, hoặc tư vấn hỗ trợ khi học sinh gặp khó khăn, vướng mắc. Với quan điểm "người làm giáo dục phải được giáo dục", nhà trường luôn quan tâm tận dụng cơ hội, các dịp để bồi dưỡng khả năng tư vấn cho các lực lượng thường xuyên phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Hình thức như sau:

             Trong các hội nghị công tác Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, các hội; nhà trường bố trí cán bộ lãnh đạo, giáo viên có uy tín, có năng lực tư vấn phát biểu, nói lên những vấn đề mà trường đang cần sự hỗ trợ của các tổ chức đó, những khó khăn vướng mắc học sinh thường gặp, thống nhất phương hướng và cách tư vấn cho học sinh để giúp các em vượt qua trở ngại.

            Trước khi triển khai các hoạt động, các lực lượng phối hợp cũng được nhà trường trao đổi rõ mục đích, cách thức và những vấn đề cần tư vấn, hỗ trợ học sinh trong quá trình triển khai.

2.3. Bồi dưỡng năng lực tư vấn cho phụ huynh học sinh:

Nhà trường xác định: phụ huynh là lực lượng tư vấn rất quan trọng, bởi phần lớn thời gian trong một ngày các em học sinh ở gia đình, gần gũi bố mẹ, anh chị em. Thông qua các hoạt động, sinh hoạt tại gia đình (câu chuyện trao đổi trong bữa cơm, hoặc sau bữa tối khi cả nhà ngồi uống nước, xem ti vi ( trước khi con vào bàn tự học); tâm sự của bố con, mẹ con, anh(chị) em trước khi vào giấc ngủ; thậm chí cả lúc gia đình cùng tham gia lao động sản xuất, sẽ là lúc người lớn dễ khai thác những khó khăn vướng mắc của con trẻ, và ngược lại con trẻ cũng mạnh dạn bộc bạch những băn khoăn vướng mắc của mình. Vấn đề là phụ huynh cần có những khả năng tư vấn nhất định để giúp con trẻ thổ lộ, bộc bạch, từ đó phụ huynh có thể tư vấn, giúp các em tháo gỡ, vượt qua trở ngại. Nhà trường tận dụng các dịp cán bộ, giáo viên tiếp xúc với phụ huynh để lồng ghép trang bị, bồi dưỡng, tư vấn cho họ những vấn đề cơ bản, những kỹ năng cần thiết để phụ huynh có thể tư vấn cho con em mình. Hình thức như sau:

- Thông qua họp phụ huynh: Họp phụ huynh toàn trường ( lãnh đạo trường tư vấn), họp phụ huynh theo đơn vị lớp (giáo viên chủ nhiệm tư vấn), họp phụ huynh theo đơn vị thôn xóm tại trường ( giáo viên chủ nhiệm thôn xóm tư vấn).

- Thông qua họp Ban đại diện cha mẹ học sinh

- Thông qua tiếp xúc giữa phụ huynh và giáo viên khi giáo viên xuống tìm hiểu tình hình, kiểm tra, nhắc nhở học sinh học tập vào buổi tối.

- Thông qua họp phụ huynh dưới thôn xóm

- Thông qua các hội nghị, diễn đàn của tổ chức Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ( các đại biểu đều có vai trò là ông, bà, bố, mẹ, anh chị của học sinh trong gia đình)

II. Tổ chức hoạt động tư vấn cho học sinh, phụ huynh:

Tư vấn chủ định đón đầu với những nội dung định sẵn trong kế hoạch giáo dục: đó là các nội dung cần tư vấn cho học sinh, phụ huynh đã được xác định trong kế hoạch giáo dục.

Tư vấn thúc đẩy tích cực các hoạt động quá trình giáo dục: Trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường, trong các mối quan hệ diễn ra hằng ngày, hằng giờ (quan hệ: giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh, giữa phụ huynh với học sinh, giữa phụ huynh với phụ huynh, giữa năng lực học sinh với yêu cầu học tập....) luôn nảy sinh các vấn đề ( giai đoạn ban đầu thường đơn giản, dễ giải quyết), mỗi thầy cô giáo, mỗi người làm công tác tư vấn nếu nắm bắt, phát hiện sớm và kịp thời tư vấn thì sẽ đem lại hiệu quả cao.

Tư vấn tình huống: Mỗi khi học sinh gặp phải những khó khăn trong đời sống tâm lý. Bao gồm những khó khăn về xúc cảm, tình cảm, tâm lý, tinh thần trong đời sống hàng ngày, trong hành vi ứng xử, quan hệ bạn bè, thầy cô, gia đình, trong học tập, định hướng nghề nghiệp... cần sự  hỗ trợ và can thiệp kịp thời, qua đó, giúp học sinh tìm được hướng giải quyết phù hợp và giúp ổn định đời sống tâm lý để có thể đạt được sự phát triển cao nhất và hiệu quả nhất trong suốt quá trình học tập, rèn luyện về sau.

1. Nội dung tư vấn tập trung vào các vấn đề sau:

          - Hướng nghiệp, chọn nghề, định hướng phân luồng học sinh và thông tin tuyển sinh,

          - Giới tính và quan hệ với bạn khác giới,

          - Quan hệ, giao tiếp, ứng xử với gia đình, giáo viên và bạn bè,

          - Phương pháp học tập,

          - Tham gia các hoạt động xã hội,

          - Thẩm mỹ, v. v…

            Các nội dung trên luôn có sự liên hệ với truyền thống nhà trường.

2. Hình thức tư vấn:

- Tư vấn trực tiếp:

+ Tư vấn cho cá nhân hoặc nhóm học sinh: Việc chọn địa điểm vận dụng linh hoạt, có thể ở phòng làm việc, phòng làm việc của tổ, hoặc một địa điểm phù hợp trong khuôn viên trường như một cuộc trò chuyện.

+ Tư vấn trước lớp

+ Tư vấn trước toàn trường: trong buổi tập trung trên sân trường, dưới cờ

- Tư vấn gián tiếp: thông qua trao đổi trên điện thoại

3. Người tư vấn, đối tượng được tư vấn:

- Giáo viên ( nhóm giáo viên ) tư vấn cho học sinh

- Mời nhân viên tư vấn chuyên nghiệp về tư vấn cho: riêng học sinh, riêng phụ huynh, hoặc đồng thời cả phụ huynh và học sinh.

VD: Nhà trường mời nhân viên tư vấn về trường tư vấn phân luồng học sinh, chọn nghề sau tốt nghiệp THCS cho cả học sinh và phụ huynh khối 8,9.

- Mời cựu học sinh (điển hình thời học sinh về các mặt khác nhau) về trường tư vấn cho học sinh.

VD: Tư vấn về: quan hệ học sinh - giáo viên, quan hệ bạn bè trong trường,  phương pháp học tập; về cách đọc sách, tự nghiên cứu học tập để dẫn đến thành công.

- Mời cựu giáo viên ( hiện tại đang có vai trò là phụ huynh) tư vấn cho phụ huynh.

- Mời phụ huynh thuộc "gia đình hiếu học" tư vấn cho phụ huynh

- Học sinh tư vấn cho nhau: Thông qua cá nhân hoặc nhóm học sinh đã được bồi dưỡng thêm năng lực tư vấn, tổ chức cho các em tư vấn cho nhau về nội dung cụ thể nào đó dưới sự hỗ trợ của giáo viên.

            VD: Về cách học tập môn học cụ thể. Về giữ gìn tình bạn khác giới. Về cách đọc sách và nghi chép tài liệu...

            * Về mối quan hệ giữa hoạt động tư vấn cho học sinh và bồi dưỡng năng lực tư vấn cho đội ngũ giáo viên, chúng tôi nhận thấy rằng: đối với những cuộc tư vấn không cần đảm bảo nguyên tắc bí mật cho người được tư vấn thì một cuộc tư vấn cho học sinh hoặc phụ huynh cũng đồng thời là bồi dưỡng năng lực tư vấn cho đội ngũ giáo viên; vì vậy khi tổ chức, chúng tôi luôn quán triệt để những thành viên tham gia quan tâm tới  hai vấn đề, đó là:

Thứ nhất: mục đích cần đạt được của cuộc tư vấn

Thứ hai: Thông qua cuộc tư vấn, mỗi thành viên nhóm tư vấn học tập được gì về nghiệp vụ tư vấn, những vấn đề gì cần rút kinh nghiệm, điều chỉnh cho phù hợp.

III. Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động tư vấn trong nhà trường hiện nay:

1.Thực trạng:

Các nhà trường THCS đã, đang, và sẽ phải tiếp tục đối mặt với các vấn đề:

- Về môi trường giáo dục:

+ Môi trường nhà trường: Thời gian dành cho học sinh, ngoài thời gian dạy trên lớp và tổ chức các hoạt động giáo dục cụ thể, của giáo viên nói chung và đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm và cán bộ quản lý nói riêng có xu hướng bị giảm bớt ( Do phải dành thời gian vào các việc: Làm báo cáo, triển khai xây dựng, thu tiền, hoàn thiện các loại hồ sơ sổ sách, tham gia các cuộc thi của giáo viên...). Giáo viên có ít thời gian để bình tĩnh, kiên trì nghe học sinh nói, trình bầy, tâm sự. Ít có thời gian dành cho việc đi sâu tìm hiểu, gợi mở để học sinh mạnh dạn bộc bạch khó khăn vướng mắc ngay từ khi vấn đề còn đơn giản. Bên cạnh đó, vấn đề thương mại hóa giáo dục ( dạy thêm, học thêm, thiếu công bằng trong đánh giá xếp loại học sinh...) xảy ra đây đó làm cho mối quan hệ thầy trò bị rạn nứt...

+ Môi trường gia đình: Số gia đình hạt nhân mất đi sự cân bằng có chiều hướng tăng. Nhiều học sinh có bố (mẹ), hoặc cả bố, mẹ đi làm xa, đi nước ngoài; bố mẹ li hôn, bố (mẹ) mất sớm, mắc tệ nạn xã hội; các em chỉ được sống với bố hoặc mẹ, hoặc phải sống với ông bà, cô dì chú bác, thiếu sự quan tâm kèm cặp dạy dỗ, uốn nắn của bố mẹ. Một bộ phận phụ huynh quá ham làm kinh tế, dành ít thời gian cho con; chưa quan tâm đúng mức hoặc quan tâm không đúng cách đến việc học tập của con. Có gia đình hoạt động kinh doanh không lành mạnh, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.

 + Môi trường xã hội: đa dạng, phức tạp bao gồm những vấn đề rộng lớn hơn, như thế giới ảo trên mạng Internet, Viễn thông, truyền hình, các phương tiện nghe nhìn, báo chí, tranh ảnh…bên cạnh mặt tích cực cũng có ảnh hưởng không tốt đến học sinh.

- Về học sinh: sớm phát triển về cơ thể, tâm sinh lý và tình cảm nam nữ. Các nhà trường đang phải đối mặt với những vấn đề như học sinh bỏ học, say trò chơi điện tử và mạng Internet, bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, lợi dụng tình dục, bạo lực, tình cảm quan hệ nam nữ, học nhồi nhét, một số dẫn đến trầm cảm, tự kỷ…. Trong khi đó các em lại ít có thời gian, điều kiện, cơ hội để tâm sự, dãi bầy với người thân (bố, mẹ, anh, chị) và thầy cô ( Lý do đã nêu ở phần trên)

2. Trước thực trạng trên cần có mô hình tư vấn học đường trong nhà trường THCS.

            Trước hết cần thống nhất:

Một là: Mỗi cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên phải là một "nhà" tư vấn, lực lượng này cần được đào tạo học phần về chuyên môn tư vấn học đường ngay khi học ở trường Sư phạm, để khi ra trường công tác có thể vận dụng, lồng ghép vấn đề tư vấn cho học sinh một cách phù hợp vào trong từng hoạt động giáo dục. Đồng thời trong quá trình công tác, lực lượng này luôn được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực tư vấn.

Hai là: Cơ cấu một đội ngũ tư vấn học đường được đào tạo chuyên sâu, hoạt động tư vấn chuyên nghiệp trong hệ thống quản lý giáo dục và trong các nhà trường. 

Ba là: Các lực lượng phối hợp giáo dục cũng luôn được các nhà trường ( với vai trò trung tâm) quan tâm bồi dưỡng năng lực tư vấn nhất định. Đặc biệt là phụ huynh học sinh.

            Bốn là: Có điều kiện, cơ chế hoạt động, phối hợp cụ thể, đặc biệt là cơ chế hoạt động, phối hợp giữa giáo viên tư vấn với đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên (Vì một đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp dù lớn đến mấy cũng không thể thay thế, làm hết được phần việc tư vấn của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên)

            Năm là: * Nếu có cơ cấu giáo viên làm nhiệm vụ tư vấn, cần tránh khuynh hướng.

            - Giám thị hóa giáo viên tư vấn ( coi giáo viên tư vấn như giám thị)

            - Coi phòng tư vấn là phòng xử lý học sinh.

            - Cán bộ quản lý, giáo viên dồn hết công việc tư vấn cho giáo viên tư vấn

            - Cán bộ quản lý "phát triển" chức năng của giáo viên tư vấn như một nhân viên tạp vụ hoặc văn thư khi thấy không có học sinh đến phòng tư vấn.

            Để tránh được những khuynh hướng trên, giáo viên tư vấn phải có năng lực thực sự, khi giáo viên tư vấn có năng lực thực sự, cùng với một cơ chế phù hợp sẽ: "Buộc" cán bộ quản lý "phải" đặt "mình" đúng vị trí. Sẽ huy động được sự phối hợp của giáo viên chứ không để giáo viên dồn đẩy hết công việc tư vấn cho giáo viên tư vấn. Sẽ bồi dưỡng nâng cao được năng lực tư vấn cho toàn thể đội ngũ, tạo sự "cộng hưởng" trong hoạt động tư vấn của nhà trường. Sẽ khiến học sinh, phụ huynh đến phòng tư vấn như một chỗ dựa, một địa chỉ tin cậy.

            * Nếu chưa có giáo viên tư vấn có năng lực thực sự để cơ cấu giáo viên làm nhiệm vụ tư vấn thì trước hết hãy phát huy "sở trường" là: " mỗi giáo viên là một nhà tư vấn", để khắc phục "sở đoản" là: "chưa có giáo viên tư vấn chuyên nghiệp".

PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH NHÀ TRƯỜNG

đăng 07:19, 21 thg 8, 2014 bởi THCS Bắc Lý

VẬN DỤNG  KINH NGHIỆM TRUYỀN THỐNG  TRONG PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH NHÀ TRƯỜNG  THEO HƯỚNG  NHÀ TRƯỜNG GẮN VỚI CỘNG ĐỒNG Ở TRƯỜNG THCS BẮC LÝ

                                         Ngô Văn Hằng - Hiệu trưởng trường THCS Bắc Lý

Trường cấp 2 Bắc Lý, nay là trường THCS Bắc Lý là một trường nằm trên khu vực châu thổ ven sông Hồng, thuộc vùng sản xuất nông nghiệp thuần túy. Mức sống và thu nhập bình quân đầu người dân chỉ ở mức trung bình.

 Hơn 60 năm qua ( 1953-2014), trong mỗi giai đoạn phát triển, để nâng cao chất lượng, hiệu quả Giáo dục - Đào tạo, nhà trường luôn băn khoăn, trăn trở để tự tìm cho mình hướng đi nhằm giải quyết những vấn đề của nhà trường như: Vấn đề chất lượng, vấn đề nội dung quá trình giáo dục, vấn đề tổ chức giáo dục…vv sao cho phù hợp điều kiện hoàn cảnh của mình. Tất nhiên, tất cả mọi băn khoăn, trăn trở tìm tòi ấy vẫn phải nằm trong phạm vi của sự chỉ đạo thống nhất với những quy định, khuôn phép của một nhà trường thuộc thiết chế nhà nước, nằm trong đường hướng tháo gỡ chung cho giáo dục cả nước. Bắc Lý tận dụng sự chỉ đạo đó và biết tìm ra lối đi, đó là con đường trả giáo dục về với cuộc sống xã hội như bản chất xã hội vốn có của nó: con đường xã hội hóa giáo dục. Nội dung xã hội hóa ấy bao gồm việc thu hút và tổ chức toàn xã hội tham gia vào việc giáo dục thế hệ trẻ, quan tâm đến mục đích đào tạo, tham gia trực tiếp vào các hoạt động giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục cho đến việc góp phần tạo ra các điều kiện làm giáo dục, đầu vào, đầu ra… Trong bước trưởng thành của mình, Bắc Lý đã có những thành tựu nhất định về mặt này. Sáu mươi năm qua, Bắc Lý đã phát huy những kinh nghiệm đó một cách phù hợp trong trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể làm cho giáo dục gắn bó với cộng đồng và phục vụ cho cộng đồng, góp phần phát triển cộng đồng với ý thức và lòng kiên trì bền bỉ. Tại Hội thảo " Làm theo lời Bác, phát huy truyền thống Bắc Lý, thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông", do Bộ GD&ĐT phối hợp với UBND tỉnh Hà Nam tổ chức tại trường THCS Bắc Lý ngày 08/11/2013, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã nhận định: Bắc Lý đã đặt mình vào vị trí trung tâm khoa học kỹ thuật, văn hóa của địa phương, là nơi tỏa sáng giá trị văn hóa, khoa học công nghệ cho địa phương, là nơi thu hút các lực lượng xã hội cùng làm giáo dục; Bắc Lý huy động xã hội hóa nhưng không đặt ra yêu cầu quá cao so với điều kiện địa phương, không vượt quá sức dân, quá khả năng đáp ứng của phụ huynh học sinh, vì vậy không có: thu góp bức xúc, dạy thêm học thêm bức xúc, bệnh thành tích bức xúc.... Nhà trường đã đi đúng vào bản chất của vấn đề là xã hội hoá quá trình giáo dục, thực sự đi vào đào tạo con người chứ không đơn thuần chỉ ở mặt xã hội hóa các điều kiện làm giáo dục. Trong thời gian tới, tham gia thí điểm phát triển chương trình nhà trường, những hoạt động của trường THCS Bắc Lý bấy lâu nay đã triển khai và sẽ tiếp tục vận dụng triển khai trong điều kiện hoàn cảnh mới, sẽ chính thức mang tính pháp lý, điều này sẽ được dư luận ở địa phương Bắc Lý đặc biệt quan tâm. Trong quá trình phát triển, có thể chưa thường xuyên, chưa đầy đủ nhưng ở mỗi giai đoạn, nhà trường đã có những điều chỉnh mục tiêu, bổ sung nội dung, cải tiến phương thức giáo dục, phương pháp dạy, phương pháp học cho phù hợp ( VD. Năm 1958: xây dựng-khai thác vườn trường, hình thành kiểu dạy-kiểu học bộ môn Sinh học. Khi chưa có chương trình chính thức của Bộ giáo dục: năm 1960, trường tự xây dựng nội dung chương trình lao động sản xuất, đưa lao động sản xuất vào nhà trường. Năm 1963,  tập thể cán bộ quản lý, giáo viên trường Bắc Lý đã xây dựng một chương trình giáo dục đạo đức có bài bản đưa vào giờ chính khóa. Các mục tiêu về đức dục và mức độ thích hợp được định ra cho từng khối lớp một cách có hệ thống. Năm 1964 nhà trường đã sử dụng “phương pháp tiếp cận phức hợp” trong dạy học, đó là sự lồng ghép nội dung giáo dục vào các môn học để thông qua giờ dạy mà giáo dục tư tưởng, đạo đức, kỷ luật, nề nếp, cách thức học tập, làm việc, đồng thời vận dụng, liên hệ thực tiễn. Trong điều kiện  sơ tán, thầy trò vừa dạy - học, vừa phải sẵn sàng trú ẩn, hoặc tham gia chiến đấu, giáo viên Bắc Lý đã cải tiến nội dung và phương pháp theo hướng “Tinh giản, cơ bản, vững chắc”....)

Nhà trường, địa phương Bắc Lý sẽ tự tin hơn trong trong việc triển khai phát triển chương trình nhà trường theo hướng nhà trường gắn với cộng đồng. Trong báo cáo tại Hội thảo này, chúng tôi sẽ nêu những vấn đề cơ bản trong việc triển khai công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường, đồng thời định hướng phát triển chương trình nhà trường theo hướng nhà trường gắn với cộng đồng trong thời gian tới.

1. Kinh nghiệm nhận thức.

Vấn đề cơ bản nhất của một nhà trường là thực hiện mục tiêu chất lượng đào tạo. Mục tiêu đó phải luôn được đặt trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Vấn đề đặt ra là mối tương quan giữa yêu cầu và điều kiện thực hiện và quan trọng là phải tìm ra con đường giải quyết mối tương quan này.

Mục tiêu - chất lượng đào tạo, một mặt do Bộ, Sở, Phòng giáo dục giao, với kế hoạch, chương trình, nội dung, sách giáo khoa và những điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên nhất định, mang tính pháp lệnh. Mặt khác mục tiêu chất lượng đào tạo được thực hiện trong hoàn cảnh và điều kiện địa phương cụ thể, phục vụ những mục tiêu kinh tế - xã hội địa phương, gắn với địa phương, cho nên mục tiêu đó phải mang tính thực tiễn cao.

Bắc Lý luôn cụ thể hóa mục tiêu, vạch ra quá trình giáo dục cụ thể, tính toán phương tiện, tìm con đường thực hiện đảm bảo sự thống nhất giữa mục tiêu chỉ đạo, phương tiện được cung cấp, với mục tiêu thực tế và điều kiện xã hội địa phương cho phép.

Bắc Lý là một nhà trường nông thôn, có nhiều khó khăn riêng. Trong công tác giáo dục, nhà trường gắn bó mật thiết với cộng đồng, xã hội. Đặc điểm này tạo ra một chỗ đứng cho nhà trường trong xã hội nông thôn và cũng tạo ra một hệ thống các mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường với xã hội, bao gồm cả về mặt thiết chế, môi trường và con người. Đây là một chỗ mạnh của nhà trường nông thôn mà Bắc Lý đã nắm bắt và phát huy. Điểm tựa này là tiền đề xác định mục tiêu đào tạo và con đường thực hiện mục tiêu đó.

- Đó phải là một mục tiêu đào tạo mà cuối cùng là phải giúp thế hệ trẻ hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng thôn xã, gia đình và hội nhập.

- Muốn vậy phải thu hút được toàn thể cộng đồng tham gia vào quá trình đào tạo theo một “kiểu dạy - kiểu học” đã hình thành ở Bắc Lý là: tổ chức toàn diện các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường, đi đôi với xây dựng môi trường giáo dục. Cộng đồng phải cùng nhà trường gánh vác trách nhiệm từ “đầu vào” đến “đầu ra”, trách nhiệm về sản phẩm đào tạo. Đó là con đường xã hội hoá giáo dục.

Đi con đường xã hội hoá giáo dục, Bắc Lý đã có những tiền đề, những kinh nghiệm nhất định, nhưng quan trọng là phải đổi mới trên cơ sở nắm bắt nhạy bén  những biến đổi của xã hội, học tập kinh nghiệm của trường bạn và thấu suốt sự chỉ đạo và giúp đỡ của cấp trên.

2. Kinh nghiệm thực tiễn (Hành động)

2.1. Trên cơ sở rõ ràng về định hướng mà tập hợp và tổ chức các lực lượng xã hội tham gia vào giáo dục.

a. Thu hút các lực lượng: Xuất phát từ định hướng, tùy từng thời kỳ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung hoạt động mà xác định các lực lượng xã hội.

Có thể thấy rõ 5 lực lượng

+ Khối lãnh đạo và quản lý: Đảng, Hội đồng nhân dân, chính quyền

+ Khối cha mẹ học sinh và tổ chức của họ.

+ Khối các tổ chức, đoàn thể xã hội, đơn vị và cá nhân.

+ Khối các cơ quan văn hoá - xã hội.

+ Khối các tổ chức kinh tế.

b. Xây dựng lực lượng đó thành những chủ thể giáo dục. Dựa vào đặc trưng, chỗ mạnh, chỗ yếu của từng lực lượng mà:

+ Xây dựng cho họ về mặt nhận thức. Nhận thức đi đôi với hành động, thông qua hành động mà xây dựng nhận thức. Điều quan trọng là:

- Nhận thức rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

- Tạo nên sự nhất trí thống nhất về hai điều cơ bản nhất là

*Thống nhất mục đích giáo dục

*Thống nhất hành động giáo dục

            + Xác định rõ nội dung, phương thức, kế hoạch thực hiện.

            Nội dung và phương thức đó phải gắn với nội dung phương thức hoạt động của từng lực lượng và đổi mới, linh hoạt.

            + Bồi dưỡng về phương pháp công tác đi đôi với nâng cao trình độ chung, làm cho ‘người giáo dục phải được giáo dục”.

            + Đối với một tổ chức nào đó, có khi phải góp phần xây dựng tổ chức của chính họ. VD góp phần củng cố Đoàn thanh niên ở nơi yếu.

            2.2. Xác định các mối quan hệ theo yêu cầu.

            + Thống nhất mục đích và hành động

            + Thể chế hóa quan hệ tạo nên thế bền vững

            + Những ràng buộc

            a. Nhà trường phải làm tốt vai trò trung tâm của tất cả hệ thống các mối quan hệ. Cụ thể là:

            - Làm tốt chức năng của nhà trường. Mức độ thu hút các lực lượng xã hội tùy thuộc vào kết quả mà nhà trường đem lại cho xã hội. Mọi hoạt động phải bắt đầu tốt đẹp từ nhà trường.

            - Làm tốt công tác “tham mưu”, công tác vận động quần chúng và trực tiếp tham gia tổ chức thực hiện tại cơ sở. Cần:

            + Có định hướng đúng và mục tiêu cụ thể đo đạc được. Nội dung và kế hoạch triển khai dài hơi và từng việc.

            + Bố trí một mạng lưới cán bộ của nhà trường tương ứng với các lực lượng xã hội, tham gia trực tiếp hoặc phân công phụ trách, thống nhất tổ chức nếu cần.

            Ví dụ: Có cán bộ quản lý, giáo viên tham gia: Ban chấp hành Đảng ủy; Hội đồng nhân dân; Hội đồng giáo dục; Trung tâm học tập cộng đồng; Thường vụ Đoàn xã; Hội Khuyến học; Hội Chữ thập đỏ; Ban giáo dục thôn; Hội LHPN…)

            + Phát huy thuận lợi ở xã và hầu hết thôn xóm: cán bộ địa phương là học sinh cũ của nhà trường.

            - Xây dựng mối liên hệ thường xuyên gắn bó (không phải lúc cần mới đến) giữa các tổ chức, các cá nhân qua hoạt động và sinh hoạt đời thường, tham gia vào các sinh hoạt địa phương (Thể thao, Lễ hội, thăm viếng, vệ sinh thôn xóm… ).

            b. Mối quan hệ nhà trường - gia đình là mối quan hệ cơ bản nhất.

            Với cơ chế mới, điều kiện hoàn cảnh hiện nay, hộ gia đình và giáo dục gia đình càng quan trọng.

-  Phải củng cố xây dựng gia đình và giáo dục gia đình. Nhà trường và cả xã hội chăm lo việc này về các mặt.

+ Thiết chế gia đình, cơ cấu, sự ổn định của thiết chế gia đình.

+ Môi trường gia đình: chú ý hệ thống quan hệ, truyền thống.

+ Văn hóa gia đình: sự ổn định hệ thống giá trị.

+ Nâng cao những điều kiện giáo dục gia đình như thái độ chính trị - giáo dục cơ bản, tính chất hoạt động nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, trình độ văn hoá và văn hoá sư phạm, bầu không khí gia đình, quỹ thời gian và việc sử dụng thời gian rảnh rỗi (ngày nông nhàn), các phương tiện văn hóa, công nghệ thông tin, điều kiện học tập ….

- Xây dựng tổ chức của cha mẹ học sinh, đặt vào vị trí xứng đáng để hội trực tiếp tham gia vào hoạt động giáo dục.

+ Thường xuyên củng cố Hội cha mẹ học sinh trường, lớp và ở thôn xóm. Củng cố theo điều lệ chính thức và nét đặc thù của Bắc Lý. Chú trọng khâu chọn người (Có trình độ, am hiểu giáo dục. Có nhiệt tâm. Gia đình gương mẫu)

+ Phát huy vai trò của cha mẹ và hội của cha mẹ trong mọi tổ chức có mặt họ. Chính họ phải là nòng cốt trong các lực lượng xã hội về mặt giáo dục.

+ Mở rộng nội dung hoạt động của hội. (Thảo luận mục tiêu đào tạo, sinh hoạt với hội đồng sư phạm, với trường, với lớp ( học sinh), sinh hoạt chuyên đề, bồi dưỡng cha mẹ học sinh, tăng cường hoạt động của hội phụ huynh thôn, vv…)

Ví dụ: Thảo luận phụ huynh toàn trường về mục tiêu, kế hoạch, phương thức Giáo dục - Đào tạo; Tư vấn hướng nghiệp, Tư vấn Tâm lý - Sức khỏe sinh sản vị thành niên- Kỹ năng tự bảo vệ an toàn bản thân, Tư vấn phân luồng học sinh sau THCS trước cả phụ huynh và học sinh...

Ở Bắc Lý, Hội cha mẹ học sinh tổ chức theo hai tuyến: Theo đơn vị lớp và đơn vị thôn xóm. Thành viên ban đại diện CMHS trường gồm: Trưởng ban đại diện CMHS lớp + Chi hội trưởng phụ huynh thôn xóm ( Trưởng ban đại diện CMHS lớp có thể kiêm Chi hội trưởng phụ huynh thôn xóm).

c. Vai trò quyết định của Đảng và chính quyền.

- Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo bằng những nghị quyết, định hướng toàn bộ lĩnh vực giáo dục ở địa phương. Trong các định hướng đó, việc xã hội hóa giáo dục trên địa bàn phải được chỉ đạo cụ thể, nằm trong tầm tay và có tác dụng  quyết định đối với hoạt động giáo dục ở từng trường.

- Các cấp chính quyền xã, thôn thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với công tác giáo dục. Chức năng này ngày càng được phát huy trong cơ chế mới, trên cơ sở hệ thống luật pháp đang ngày càng được hoàn thiện. Chính quyền cũng thực hiện chức năng chỉ đạo các tổ chức, các ngành trong địa phương tham gia công tác giáo dục, chính sự tham gia của cán bộ chính quyền xã, thôn vào Hội đồng giáo dục xã và Ban giáo dục thôn đã làm tăng uy tín và quyền lực của các tổ chức mang tính chất nhà nước - xã hội này.

- Vai trò của Hội đồng nhân dân xã ngày càng phát huy uy lực, tiếng nói của nhân dân. Quyền lực này rất có ý nghĩa đối với việc xã hội hóa giáo dục.

Ví dụ: Quyết nghị: huy động dân đóng góp xây dựng cơ bản các công trình trường học; huy động xã hội hóa tiền, ngày công xây dựng sửa chữa nhỏ; ngân sách xã đầu tư cho giáo dục...

2.3. Xây dựng bộ máy điều hành:

Để điều hành hoạt động liên kết, phối hợp các lực lượng giáo dục trên địa bàn, cần có bộ máy điều hành, đó là Hội đồng giáo dục cấp xã - Một tổ chức có quyền lực, nó đặt trọng trách cho xã hội,  tư vấn cho chính quyền và tổ chức việc thực hiện các chủ chương giáo dục trong xã.

            Ở Bắc Lý, hoạt động của Hội đồng giáo dục xã trong một thời gian cũng gặp một số khó khăn, như tổ chức còn cồng kềnh, năng lực hoạt động hạn chế, không có sự chỉ đạo thường xuyên theo hệ thống dọc, thiếu điều kiện vật chất. Song, những hạn chế đó sớm được khắc phục. Qua những lần củng cố, Bắc Lý có kinh nghiệm sau đây: Phải tổ chức Đại hội giáo dục cấp cơ sở. Đai hội được tổ chức tốt sẽ giải quyết được mấy vấn đề sau:

            - Xác định được nội dung toàn diện của việc thu hút toàn xã hội tham gia giáo dục, thực hiện xã hội hóa giáo dục. Đảm bảo tính liên thông.

            - Nội dung này được đưa vào một kế hoạch  tổng thể sẽ là chương trình hành động cụ thể nhằm giải quyết trọn vẹn các vấn đề giáo dục nằm trên địa bàn.

            - Nội dung này được phân công và kí cam kết trước Đại hội giáo dục cấp cơ sở, đã trở thành trách nhiệm trước nhân dân toàn xã của từng tổ chức, từng lực lượng và cá nhân.

            - Việc Đại hội giáo dục cấp cơ sở bầu ra Hội đồng giáo dục xã, đã tạo cơ sở pháp lí (về tính dân chủ, công khai) và cũng khẳng định trách nhiệm của Hội đồng giáo dục xã trước công luận.

- Việc hình thành Ban giáo dục thôn gồm trưởng thôn, Chi hội trưởng phụ huynh, Bí thư Đoàn và 1 giáo viên chủ nhiệm thôn tạo thuận lợi cho những hoạt động cụ thể dưới "lũy tre xanh".

            - Các tiểu ban của Hội đồng giáo dục xã có chức năng tư vấn cho HĐGD, đồng thời tổ chức thực hiện các chủ trương, kế hoạch của HĐGD.

            Cách làm trên đảm bảo một yếu tố cơ bản cho năng lực hoạt động của Hội đồng giáo dục: Có quyền lực. Có uy tín. Có điều kiện vật chất.

            2.4.Về lề lối làm việc.

a. Quy trình thực hiện các quan hệ phối hợp đều phải đảm bảo:

+ Rõ ràng, cụ thể, thiết thực (có ích lợi) về mục tiêu

+ Hoạch định nội dung, phương thức hoạt động, các đầu việc.

+ Xây dựng kế hoạch (chỉ tiêu, thời gian, điều kiện…)

+ Tổ chức lực lượng, phân công phân nhiệm, cam kết

+ Đôn đốc kiểm tra đánh giá, khen thưởng …

b. Tổ chức sinh hoạt.

- Sáng tạo các hình thức sinh hoạt về giáo dục có chất lượng (chống hình thức, họp hành nhiều…) giữa các tổ chức, lực lượng và trong từng tổ chức, từng lực lượng biến thành một bầu không khí giáo dục.

Ví dụ: Sinh hoạt cựu học sinh để lo giáo dục đàn em; cựu học sinh - học sinh  để giáo dục tiếp nối truyền thống. Sinh hoạt phụ huynh bàn về mục tiêu giáo dục…

            - Ổn định lịch sinh hoạt thường kỳ của từng  tổ chức: HĐGD, Ban giáo dục thôn, Hội cha mẹ học sinh ...

            - Mở rộng dân chủ, công khai thực hiện.

            c. Giải quyết tốt những điều kiện phối hợp

            - Bằng nhiều hình thức phong phú để thường xuyên nâng cao nhận thức về giáo dục trên cơ sở nâng cao dân trí và làm cho “người giáo dục được giáo dục”. Người lớn phải là tấm gương cho trẻ noi theo.

            - Quán triệt những luật lệ, điều lệ, quy định và kể cả quy ước của cộng đồng trong việc chăm lo giáo dục trẻ em.

            - Coi trọng công tác thông tin, đa dạng hóa nguồn thông tin, sáng tạo cách lấy thông tin về mọi mặt liên quan và xử lý kịp thời.

            Tóm lại:

            -  Muốn huy động lực lượng cộng đồng, cần xây dựng được bộ máy điều hành công tác thường xuyên, khoa học (tiến hành Đại hội giáo dục)

- Các nhà trường là trung tâm của tất cả các lực lượng.

- Trong các lực lượng thì nhà trường và gia đình là bản chất. Trong các mối quan hệ thì quan hệ nhà trường - gia đình là mối quan hệ cơ bản nhất.

- Cần duy trì thường xuyên, tạo sự tiếp nối các hoạt động và thể chế hóa các mối quan hệ để tạo sự bền vững của hoạt động.

- Đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch và có sự tham gia, giám sát của nhân dân, của phụ huynh trong việc huy động đóng góp tài chính xây dựng các nhà trường.

- Để phát huy sức mạnh cộng đồng trong hoạt động giáo dục, cần tôn trọng và thu hút được cộng đồng nhờ văn hóa địa phương trong hoạt động giáo dục. Tăng cường hợp tác với bên ngoài. Có đầy đủ các thiết chế, chương trình giáo dục; nguồn lực giáo dục, có sự tham gia của cả hệ thống. Xây dựng mối quan hệ đối tác giữa nhà trường và cộng đồng. Thiết lập nhiều phương pháp khác nhau để giao tiếp, làm việc với cha mẹ học sinh và cộng đồng.

 Bắc Lý đã đặt công việc gắn với toàn xã hội, gắn với cộng đồng và cộng đồng đã tham gia vào công việc giáo dục. Đó là bản chất xã hội hoá ở Bắc Lý.

3. Vận dụng kinh nghiệm trong việc phát triển chương trình nhà trường theo hướng nhà trường gắn với cộng đồng(trong điều kiện hoàn cảnh mới).

            3.1.Thu hút mọi lực lượng xã hội vào sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Quan tâm tổ chức sức mạnh cộng đồng, sức mạnh của các thiết chế xã hội, các lực lượng xã hội.

   - Phát huy sức mạnh của các cơ quan lãnh đạo và quản lý địa phương như Đảng uỷ, UBND, HĐND các cấp. (Bộ phận quyết định các định hướng cơ bản cho hoạt động giáo dục trên quy mô toàn xã, xác định kế hoạch dài hạn và kế hoạch cụ thể từng thời kỳ, từng vụ việc, tổ chức các lực lượng xã hội tham gia hoạt động giáo dục), thông qua việc chủ động tham gia xây dựng Nghị quyết có liên quan đến giáo dục nhằm:

   Đưa vào nghị quyết của Đảng phần về giáo dục ở trường Bắc Lý, có chủ trương cụ thể cho trường và tổ chức hệ thống Đảng và các đoàn thể ở các thôn xóm thực hiện, đôn đốc và kiểm tra.

            Đưa vào chương trình nghị sự các kỳ họp Hội đồng nhân dân xã những vấn đề cơ bản về giáo dục, xây dựng môi trường vĩ mô, tạo nên ảnh hưởng tích cực cho các môi trường giáo dục, tạo nên hiệu lực thực thi các chủ trương biện pháp xã hội hóa giáo dục ở Bắc Lý.

            Kịp thời đề xuất để chính quyền kịp thời giải quyết những vấn đề cụ thể của nhà trường, huy động, đôn đốc, kiểm tra sự tham gia của chính quyền thôn xóm, các tổ chức xã hội, các tập thể và cá nhân; giải quyết vấn đề ngân sách cho nhà trường, chăm lo cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên.

 Trường thường xuyên có “tiếng nói” trong các Hội nghị của xã: bố trí có đại diện trường Bắc Lý tham dự, phát biểu ý kiến và nêu đề xuất trong các Đại hội, Hội nghị của Đảng, chính quyền các tổ chức đoàn thể, các kì họp HĐND, các buổi tiếp xúc cử tri. Ví dụ: tuyên truyền về những quan điểm, chủ trương, mục tiêu, kế hoạch của nhà trường và những vấn đề nhà trường đang cần sự hỗ trợ, phối hợp của các tổ chức đoàn thể, các lực lượng xã hội.

            Quan tâm khai thác thế mạnh mối quan hệ trách nhiệm, tình cảm đối với công việc nhà trường của các cựu học sinh, giáo viên trong hệ thống cán bộ huyện, xã, thôn và các tổ chức đoàn thể (có rất nhiều người vốn là học sinh cũ của trường)

            - Về nhân sự: Tiếp tục tham mưu để đưa cán bộ quản lý, giáo viên tham gia: Ban chấp hành Đảng ủy; Hội đồng nhân dân; Hội đồng giáo dục; Trung tâm học tập cộng đồng; Thường vụ Đoàn xã; Hội Khuyến học; Hội Chữ thập đỏ; Ban giáo dục thôn; Hội LHPN…

- Phát huy vai trò ( nhà trường là trung tâm) để tập hợp, huy động được các tổ chức đoàn thể, lực lượng xã hộ cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.

+ Đoàn thanh niên: phối hợp tổ chức các hoạt động ở thôn xóm như: sinh hoạt Đội dưới lũy tre xanh; vệ sinh đường làng ngõ xóm; chăm sóc các di tích lịch sử, Mẹ Việt Nam Anh hùng; hoạt động trại thu, lao động công ích, lao động sản xuất, tìm hiểu các cơ sở sản xuất, xây dựng môi trường giáo dục thôn xóm khu vực ở; tổ chức các ngày lễ, kỷ niệm, bồi dưỡng phát triển Đoàn viên, hướng dẫn hoạt động Đội trong trường và ở địa phương, vui chơi văn nghệ, thể dục thể thao. (Ở Bắc Lý có sự thống nhất giữa chi đội trường lớp và chi đội thôn xóm tốt)

            + Hội phụ nữ: Tổ chức các hoạt động hỗ trợ giáo dục thông qua các phong trào như: xóa đói giảm nghèo, chống bỏ học, chống suy sinh dưỡng ở trẻ em, tham gia cuộc vận động “ xây dựng gia đình văn hóa mới”, phát huy vai trò người mẹ trong việc đảm bảo sự an toàn cơ cấu và bầu không khí gia đình, trực tiếp chăm lo nuôi dưỡng con cái, thực hiện kế hoạch hoá gia đình.

+ Mặt trận tổ quốc: bằng uy tín của mình, tập hợp và đôn đốc các tổ chức tham gia vào hoạt động giáo dục ở nhà trường và giữ kỷ cương, nề nếp, đạo lý trong từng thôn xóm, tạo nên môi trường giáo dục tốt cho trẻ.

+ Hội khuyến học: Thông qua hoạt động của các chi hội khuyến học thôn xóm, dòng họ động viên khen thưởng kịp thời những học sinh có thành tích thuộc địa bàn, hoặc con cháu dòng họ, đồng thời giúp đỡ các cháu có hoàn cảnh khó khăn.

            + Lực lượng cán bộ bộ hưu trí, hội cựu chiến binh: Giáo dục con cháu ở nhà và thôn xóm; phối hợp ôn lại lịch sử truyền thống quân đội.

+ Lực lượng các ban Văn hóa, Công an, Lao động thương binh xã hội: tuyên truyền về chủ trương của ngành giáo dục, kế hoạch các nhà trường; luật bảo hiểm y tế học sinh; quản lý hoạt động và nhắc nhở các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, quán Internet trên địa bàn xã thực hiện đúng quy đinh, làm tốt chế độ chính sách cho học sinh.

            + Trạm y tế xã phối hợp chặt chẽ với  nhà trường trong việc quản lý hồ sơ sức khoẻ, phân loại và khám chữa bệnh cho học sinh, hướng dẫn sơ cứu thương, phòng dịch bệnh, tham gia giáo dục dân số và kế hoạch hoá gia đình.

 Việc  phối hợp các lực lượng, lồng ghép các hoạt động giáo dục căn cứ vào các nội dung cụ thể để đem lại hiệu quả cao.

+ Phối hợp giữa nhà trường, Hội phụ huynh, Ban giáo dục thôn xóm và gia đình:

 Bắc Lý cũng như ở một số địa phương nông thôn khác, việc học tập văn hoá của học sinh cấp 2 dễ bị sao nhãng, bị lôi cuốn vào công việc sản xuất gia đình, vào làm giàu, hoặc sa vào các trò chơi điện tử, các tệ nạn xã hội. Mặt khác: ngoài thời gian học tập, hoạt động ở trường, trên địa bàn không có các tụ điểm dạy thêm, học thêm. Bắc Lý đề cao yêu cầu tự học tập văn hóa ở gia đình, trú trọng tổ chức, quản lý học sinh; đồng thời có biện pháp ngăn chặn, hạn chế học sinh bỏ học. Để thực hiện tốt nội dung này, nhà trường tiếp tục phối hợp chặt chẽ với 2 tổ chức là hội phụ huynh, Ban giáo dục thôn xóm và gia đình học sinh.

 Duy trì cơ cấu tổ chức Hội phụ huynh học sinh hoạt động theo hai tuyến là chi hội lớp và chi hội thôn (xóm). Một trong những hoạt động phối hợp là tổ chức học tập văn hóa ở gia đình: Trường + Hội cha mẹ học sinh + các gia đình, quy định: Mỗi học sinh phải có nơi học tập (góc học tập) yên tĩnh, có thời gian biểu và có đầy đủ các điều kiện học tập, giờ học được thống nhất trong thôn xóm cho từng khối lớp, nhà trường, gia đình, hội cha mẹ học sinh cùng đôn đốc cho con em thực hiện. Trước đây các gia đình phát động thực hiện “Ba không” khi con em đang học là: “Không làm ồn, không sai vặt, không lấy đèn”. Hiện nay đèn điện đã thay thế đèn dầu, mỗi gia đình đều có Ti vi, các gia đình thực hiện: “Không làm ồn, không sai vặt, không mở ti vi”. Trước đây, tiếng kẻng trong thôn báo giờ vào học, giờ kết thúc thời gian học buổi tối, hiện nay được thay thế bởi ý thức tự giác thực hiện thời gian biểu cho phù hợp yêu cầu từng khối lớp, từng nhóm đối tượng học sinh. Việc học ở nhà giúp hình thành ý thức tự giác, độc lập suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo; đây là những yếu tố cần thiết đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của các cháu.

 Tiếp tục duy trì cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ban giáo dục thôn, xóm ( hoạt động mang tính đặc thù). Thành phần gồm đại diện: Chi ủy (trưởng thôn), BCH Chi đoàn, Chi hội Phụ nữ, Chi hội khuyến học, Chi hội trưởng phụ huynh; hoạt động chủ yếu là hỗ trợ giáo dục, phát hiện và phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh như: Học sinh có dấu hiệu bỏ học, hòa giải những khúc mắc, mâu thuẫn của học sinh, của phụ huynh; kiểm tra đôn đốc học sinh học tập, nhắc nhở thực hiện quy định nề nếp…

Ví dụ: Khi giáo viên xuống kiểm tra tình hình học tập của học sinh vào buổi tối, sẽ có thành viên Ban giáo dục thôn cùng đi. Khi học sinh có dấu hiệu bỏ học: Hội phụ nữ tìm hiểu, động viên, nếu là lý do tâm lý thì phối hợp giải tỏa, nếu là lý do kinh tế khó khăn thì huy động hội khuyến học hỗ trợ sách vở, quần áo, tiền. Cuối mỗi học kì các nhà trường có trách nhiệm gửi danh sách học sinh đạt thành tích cao về các chi hội khuyến học để làm căn cứ khen thưởng…

Tiếp tục duy trì hệ thống Giáo viên chủ nhiệm theo hai tuyến: Chủ nhiệm lớp và chủ nhiệm (phụ trách) thôn, xóm.

Duy trì các hình thức họp (sinh hoạt) phụ huynh học sinh:

(+) Họp tại trường (3 nội dung) : Họp chung toàn trường( Lãnh đạo trường chủ trì), họp theo đơn vị lớp (GVCN lớp, trưởng BĐD CMHS lớp chủ trì), họp theo đơn vị thôn xóm (GVCN thôn, Chi hội trưởng PH thôn xóm chủ trì)

(+) Họp phụ huynh dưới thôn xóm (GVCN thôn, Chi hội trưởng PH thôn xóm chủ trì)

            3.2. Tổ chức để xã hội Bắc Lý cùng với nhà trường xác định mục tiêu đào tạo, tham gia vào các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường.

   a. Xã hội hoá việc xác định mục tiêu đào tạo: Tăng cường hoạt động tuyên truyền về đổi mới giáo dục đào tạo của trường THCS Bắc Lý trong toàn ngành, trong xã hội, ở địa phương. Tổ chức thảo luận với phụ huynh, học sinh về mục đích của việc đi học; tạo sự đồng thuận, thống nhất phương hướng, mục tiêu, phương thức, phương pháp GD- ĐT với nhà trường. Việc làm này tạo cơ sở đầu tiên quan trọng nhất của sự thống nhất giữa các chủ thể giáo dục (nhà trường, gia đình và xã hội). Làm cho mục tiêu đào tạo mang tính thực tiễn cao. Trong điều kiện kinh tế thị trường, nó tạo ra sự thống nhất về lợi ích, giáo viên cũng thấy việc làm của mình có ích thực sự, công lao của họ được ghi nhận, việc làm của họ được xã hội ủng hộ.

(Cách xác định mục tiêu đào tạo như vậy là tiền đề quan trọng nhất để toàn xã hội nhất trí, đồng tình ủng hộ và tham gia vào các hoạt động giáo dục theo mục tiêu đào tạo)

   b. Từ đó, huy động xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường           

   - Chủ động xây dựng nôi dung “phần mền” giáo dục phục vụ việc dạy và học: chủ động sưu tầm và đề xuất các cấp lãnh đạo, các ban ngành liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để bổ sung cho  “phần mền” giáo dục.

   + Các văn bản liên quan đến định hướng phát triển và mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tể xã hội, an ninh, quốc phòng của xã, huyện, tỉnh.

  + Phần mềm Giáo dục địa phương các bộ môn địa lý, lịch sử, kỹ thuật(Công nghệ), GDCD: để học sinh có được những hiểu biết cơ bản về địa phương. Ví dụ: về điều kiện tự nhiên, môi trường, cơ cấu xã hội, dân cư; lịch sử, truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng, phong tục tập quán; cơ cấu sản xuất, lao động - ngành nghề, năng suất, ứng dụng khoa học kỹ thuật, phương thức quản lý và cập nhật bổ sung thành tựu đổi mới phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới… của xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân.

  + Những cơ sở sản xuất, mô hình mới hình thành trên địa bàn.

  + Những công việc trong chương trình xây dựng nông thôn mới mà nhà trường có thể phối hợp thực hiện. VD: Giáo viên, học sinh vận động gia đình, phụ huynh ủng hộ hiến đất, dịch dậu, tích cực tham gia bảo hiểm y tế; gìn giữ môi trường; xử lý phân loại rác thải tại nhà, tham gia thu gom rác thải tại địa phương.

- Chủ động phối hợp, vận động các đơn vị sản xuất, hộ gia đình giúp đỡ tổ chức các hoạt động giáo dục lao động, hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh:

 Duy trì mối liên hệ và có bộ phận trực tiếp phối hợp các hợp tác xã nông nghiệp(3 HTX), các hộ sản xuất, chủ trang trại, công ty may… tham gia việc giáo dục lao động kỹ thuật, hướng nghiệp dạy nghề. Duy trì việc cho học sinh nắm bắt một số khâu dịch vụ kĩ thuật, diệt trừ sâu bệnh, áp dụng kĩ thuật mới về giống cây, con, công tác thú y, phòng dịch, diệt ốc bươu vàng, tham gia hướng nghiệp, giới thiệu về cơ sở sản xuất. Gia đình cho học sinh tham gia sản xuất cùng người lớn trên đồng ruộng, vườn, ao của gia đình, áp dụng kĩ thuật mới vào sản xuất, giúp học sinh trưởng thành về lao động.

- Phối hợp các lực lượng xã hội tham gia các hoạt động giáo dục ngoài nhà trường, trên địa bàn dân cư cho học sinh: Tổ chức Đoàn, hội phụ nữ các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cùng với Ban giáo dục thôn …tạo điều kiện hoặc trực tiếp đứng ra tổ chức hoạt động ngoài nhà trường. (Các hoạt động này mang tính xã hội cao và có tác dụng về nhiều mặt; người lớn và trẻ em cùng hoạt động hoặc trẻ em hoạt động tự quản dưới sự hướng dẫn của người lớn.)

Ví dụ: các hoạt động theo chủ điểm, vệ sinh và môi trường, chương trình nông thôn mới, hoạt động hè, chăm sóc Nghĩa trang, thắp nến tri ân dịp 27/7, hoạt động trại thu và ngày 1/6, tìm hiểu chăm sóc các di tích Lịch sử văn hóa, Lễ hội, Hội làng, câu lạc bộ hát Lải lèn...

 Xã hội và gia đình là nơi tiếp tục các hoạt động thực hành sau việc tiêp thu lý thuyết và thực hành ở trường về các mặt văn hóa, đao đức, lao động v. v…

3.3. Chăm lo xây dựng môi trường giáo dục: Tiếp tục quan tâm xây dựng 3 môi trường có tác động mạnh mẽ tới việc giáo dục học sinh đó là: Môi trường nhà trường,  môi trường gia đình và môi trường khu vực ở của học sinh. Quan tâm giữ gìn các mối quan hệ thầy trò, thầy với thầy, bạn bè học sinh. Duy trì trường lớp đảm bảo an toàn, cảnh quan “Xanh, sạch, đẹp”. Dựa vào thế mạnh của các gia đình, truyền thống địa phương để kết hợp các lực lượng xây dựng các phong trào, các cuộc vận động trong khu dân cư, bên cạnh đó, dựa vào mặt tích cực của các mối quan hệ gia đình, làng xóm, dòng tộc, dư luận trong khu vực ở, để hướng dư luận ủng hộ cái tốt, cái truyền thống; phê phán cái xấu, cái lạ lẫm không phù hợp; nhằm tạo môi trường tốt để giáo dục trẻ trong gia đình, thôn xóm. Trong thời gian tới cần quan tâm các vấn đề sau:

- Tiếp tục lấy Học sinh là trung tâm (Tất cả vì học sinh thân yêu). Xong cần  cho học sinh thấy rõ: các em phải góp phần trách nhiệm với nhà trường, với xã hội  (Tránh hình thành trong học sinh tư tưởng “Bao cấp”- Chỉ luôn đón nhận mà không phải cống hiến).

- Để giữ gìn mối quan hệ thầy trò: tránh thương mại hoá giáo dục; dạy thêm, học thêm phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng của học sinh và để đáp ứng yêu cầu “ làm nảy nở hết năng lực sẵn có của học sinh”. Công bằng, chính xác trong đánh giá, xếp loại học sinh. 

- Tăng cường tổ chức các hoạt động phù hợp sức khỏe, tâm sinh lý học sinh để các em có thể chia xẻ lẫn nhau. Làm tốt công tác tư vấn tâm lý học đường: Giáo viên tăng cường tiếp xúc với học sinh, tạo điều kiện để học sinh bộc bạch tâm tư, vướng mắc. Thu thập thông tin về học sinh từ nhiều kênh...

- Tiếp tục cùng các lực lượng xã hội hướng vào giáo dục gia đình; khai thác thế mạnh, ưu điểm nổi bật của gia đình Bắc Lý. Đặc biệt quan tâm học sinh có hoàn cảnh đặc biệt. VD: có bố hoặc mẹ ( Hoặc cả bố mẹ) đi làm xa, đi nước ngoài; bố mẹ li hôn, bố (mẹ) mất sớm, mắc tệ nạn xã hội; các em chỉ được sống với bố hoặc mẹ, hoặc phải sống với ông bà, cô gì chú bác, thiếu sự quan tâm kèm cặp dạy dỗ, uốn nắn của bố mẹ.  Học sinh sớm phát triển về cơ thể, tâm sinh lý và tình cảm nam nữ. Học sinh có phụ huynh quá ham làm kinh tế, chưa quan tâm đúng mức hoặc quan tâm không đúng cách đến việc học tập của con cái. Gia đình kinh doanh Internet, dịch vụ văn hóa, cà phê, giải khát...

Hiện nay môi trường xã hội trở nên đa dạng, phức tạp bao gồm những vấn đề rộng lớn hơn, như thế giới ảo trên mạng Internet, Viễn thông thông, truyền hình, các phương tiện nghe nhìn, báo chí, tranh ảnh…Các nhà trường đang phải đối mặt với những vấ đề như học sinh bỏ học, say trò chơi điện tử và mạng Internet, bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, lợi dụng tình dục, bạo lực, tình cảm quan hệ nam nữ…. Vì vậy, đi đôi với việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, cần phải có những giải pháp kịp thời nhằm ngăn chặn, hạn chế những tác động xấu của môi trường xã hội đối với thiếu niên, học sinh.

3.4. Đảm bảo tính liên thông: Với vai trò đơn vị điển hình tiên tiến, là trường "Anh cả" trên địa bàn xã, trường Bắc Lý chủ động phối hợp với các trường học trên địa bàn xã để thống nhất những vấn đề cơ bản có liên quan trong hoạt động giáo dục, những vấn đề có thể hỗ trợ lần nhau, những vấn đề huy động các lực lượng giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mầm non và 2 trường Tiểu học, tạo tiền đề cơ sở về chất lượng cho trường Bắc Lý. Ví dụ: hỗ trợ CSVC( nơi thừa, nơi thiếu), hướng dẫn hoạt động Đội, phụ trách sao nhi đồng, công tác bồi dưỡng năng khiếu TDTT, bàn giao sâu về tình hình học sinh khi chuyển cấp...). Về đầu ra, Bắc Lý đảm bảo tính chân thực của chất lượng, duy trì hoạt động “hoàn chỉnh mục tiêu” để chuẩn bị thiết thực về tâm thế và năng lực cho học sinh ra trường. Quan tâm xây dựng môi trường để học sinh sau khi tốt nghiệp THCS hoặc sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, sau khi học nghề về địa phương có thể tham gia lao động, sản xuất kinh doanh.

            3.5. Chủ động huy động toàn xã hội chăm lo xây dựng điều kiện giáo dục:             Tham mưu, đề xuất để lãnh đạo xã có cơ chế đầu tư hỗ trợ như: đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư sửa chữa định kỳ hằng năm, hỗ trợ các hoạt động đặc biệt (Khai giảng, Hội thảo, các hoạt động điểm), hỗ trợ điều kiện phục vụ các hoạt động giáo dục, lao động, hướng nghiệp, dạy nghề(ruộng đất, ao hồ, đầm). Sử dụng tài sản trên đất. Chi trả Hợp đồng bảo vệ. Ngoài nguồn ngân sách, nhà trường đề xuất các cấp chính quyền tạo điều kiện đa dạng hóa các nguồn đầu tư: Huy động dân đóng góp, nguồn hỗ trợ của cấp trên (huyện, tỉnh, Trung ương). Tạo hành lang pháp lý để nhà trường làm công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các lực lượng tham gia giáo dục và hỗ trợ tài chính. (Ví dụ: Đồng ý để nhà trường huy động ngày công lao động của phụ huynh học sinh đầu cấp). Khai thác các mối quan hệ, kết nối quan hệ với cựu học sinh thành đạt, các doanh nghiệp để hỗ trợ cơ sở vật chất cho  nhà trường.

Tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ sở kinh tế - kỹ thuật ở địa phương, sử dụng thêm các cơ sở vật chất – kỹ thuật ngoài nhà trường với mức độ phù hợp và bằng cách thích hợp với các điều kiện của các cơ sở kinh tế - kỹ thuật đó, để tổ chức các hoạt động GD- ĐT (Các di tích Lịch sử văn hóa, Nghĩa trang Liệt sĩ, Nhà của bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các cơ sở sản xuất, các trang trại, đầm hồ; hệ thống Máy tính của các gia đình…)

3.6. Hình thành văn hóa địa phương trong hoạt động giáo dục: Thể hiện ở sự lưu truyền, tiếp nối qua các thế hệ về các vấn đề như, sự thống nhất về quan điểm chỉ đạo của bộ máy lãnh đạo, sự thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương thức, phương pháp, giáo dục; sự đồng thuận tham gia vào cuộc của tất cả các lực lượng, sự phối hợp đa dạng nhưng không chồng chéo, việc định hướng dư luận tích cực cho nhà trường, sự quan tâm tham gia giáo dục của gia đình, dòng họ, làng xóm…đươc duy trì tiếp nối trở thành nét văn hóa địa phương Bắc Lý. Duy trì thường xuyên, tạo sự tiếp nối các hoạt động và thể chế hóa các mối quan hệ để tạo sự bền vững của hoạt động. Quan tâm giáo dục truyền thống. (Đó là truyền thống của một kiểu dạy - kiểu học. Truyền thống tổ chức toàn diện các hoạt động giáo dục. Truyền thống gắn bó với địa phương, kết hợp các lực lượng giáo dục và xây dựng môi trường. Truyền thống xây dựng nề nếp kỉ cương ở tất cả các dạng hoạt động, sinh hoạt, quản lý nhà trường. Truyền thống về giáo dục lao động, giáo dục đạo đức...).  Những truyền thống tốt đẹp đó đem lại một hệ quả rất tốt, đó là sự ổn định của hệ thống giá trị, nó định hướng cho dư luận và làm chuẩn cho các mối quan hệ trong môi trường nhà trường.

Tóm lại: Mỗi nhân tố, mỗi lực lượng xã hội ở Bắc Lý có điểm mạnh, điểm hạn chế, nhưng tất cả được thu hút, tập hợp tổ chức thành những lực lượng giáo dục có hiệu quả.

            4. Lời kết: Để triển khai hiệu quả phát triển chương trình nhà trường theo hướng nhà trường gắn với cộng đồng. Trong thời gian tới, nhà trường thực hiện các giải pháp dưới đây:

            1) Duy trì sự gắn bó, tin tưởng, hợp tác của cộng đồng trên cơ sở nền tảng uy tín của giáo viên, của nhà trường đối với cộng đồng.

            + Giữ gìn phẩm chất đạo đức nhà giáo, uy tín; sự tôn trọng của xã hội (Phụ huynh, nhân dân); sự tin yêu, quý mến, tin tưởng của học sinh đối với thầy cô giáo Bắc Lý( Những điều nghe rất quen, tưởng chừng đơn giản nhưng thật chẳng dễ dàng, đặc biệt là trong cơ chế thị trường như hiện nay) Ví dụ: thông qua các vấn đề: Dạy thêm học thêm; công bằng trong đánh giá xếp loại học sinh; tận tình chăm sóc chu đáo, tỉ mỉ việc việc học tập của học sinh ở trường và ở nhà.

+ Huy động xã hội hóa xây dựng điều kiện vừa sức dân, phù hợp điều kiện địa phương.

+ Đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch và có sự tham gia, giám sát của nhân dân, của phụ huynh trong các việc: huy động đóng góp tài chính xây dựng nhà trường; trong việc tổ chức mua sắm, trang bị đồng loạt cho học sinh bằng tiền của phụ huynh (Đồng phục, sách vở, nước uống...). Không để nhà trường bị lợi dụng thành nơi tiếp thị, bán hàng. Lành mạnh hóa nguồn huy động, (tránh bị giàng buộc, ảnh hưởng tới nguyên tắc hoạt động nhà trường, vào kết quả đánh giá xếp loại học sinh...)

2) Giải quyết hài hòa vấn đề kinh tế thị trường trong giáo dục, quan hệ giữa đóng góp và lợi ích: Điều tiết hài hòa nguồn tài chính cho các hoạt động, quan tâm đến đội ngũ về: Uy tín, cơ hội phát triển (chuyên môn, vị trí công tác), nâng lương, danh hiệu(chuyên môn, thi đua, khen thưởng), thưởng.

3)  Kế hoạch hóa là công cụ quản lý quan trọng để giúp cân đối các hoạt động giáo dục.

Trên chặng đường đi tới, để tăng thêm sức mạnh, Bắc Lý sẽ kết hợp kinh nghiệm của các điển hình giáo dục với cái “cân đối, nhịp nhàng” vốn có của mình. Phát huy những mặt tích cực, khắc phục những khó khăn, tồn tại hạn chế, đồng thời sáng tạo, đổi mới trong việc phát triển chương trình nhà trường, xây dựng nhà trường gắn với cộng đồng và đáp ứng yêu cầu hội nhập



ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI THỰC TIỄN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO

đăng 05:24, 16 thg 3, 2014 bởi THCS Bắc Lý   [ đã cập nhật 05:27, 16 thg 3, 2014 ]

ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI THỰC TIỄN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG THCS BẮC LÝ TỪ NĂM 2014 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO

Ngô Văn Hằng - Hiệu trưởng trường THCS Bắc Lý

1. Tìm cách “tích hợp ” một cách hợp lý theo quan hệ hỗ trợ và quan hệ phối hợp giữa các nhiệm vụ và các hoạt động GD – ĐT để nâng cao chất lượng hiệu quả GD- ĐT, giảm tải nội dung và kế hoạch GD-ĐT.

2. Cụ thể hóa mục tiêu GD - ĐT của cấp học thành yêu cầu cụ thể với những chuẩn mực - tiêu chí đánh giá phù hợp

3. Tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lượng hiệu quả GD – ĐT con người nói chung và chất lượng hịêu qủa giáo dục - đào tạo - văn hóa - khoa học - kỹ thuật công nghệ, chuẩn bị cho học sinh học lên THPT, hoặc đi học nghề hoặc đi vào sản xuất và cuộc sống sau THCS nói riêng.

4. Cải tiến các nội dung môn học KHTN, KHXH, KHKT- CN theo hướng tích hợp một cách hợp lý ( phù hợp lô gic khoa học lứa tuổi trình độ học sinh THCS) vào nội dung của các môn học này một số tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật công nghệ một số vấn đề về thực tiễn đổi mới phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội - kỹ thuật - công nghệ của đất nước, của địa phương và một số vấn đề quan trọng đang đặt ra trong sản xuất và cuộc sống xã hội.

5. Hoàn thiện thêm nội dung Giáo dục địa phương (GDĐP), bảo đảm cho học sinh có được những hiểu biết cơ bản nhất, đầy đủ về địa lý dân cư, lịch sử, truyền thống, văn hóa, truyền thống cách mạng, phong tục tập quán, cơ cấu sản xuất, lao động - ngành nghề thành tựu đổi mới phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới… của xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân

6. Hoàn thiện nội dung GDLĐ theo hướng:

+ Loại bỏ nội dung lao động tạp dịch

+ Tăng tỷ trọng GDLĐ kỹ thuật theo ngành nghề nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ tự phục vụ gia đình, ngành nghề truyền thống ở địa phương. Coi trọng mối quan hệ giữa nội dung lao động và nội dung – chương trình GDKT- CN ở một mức độ nhất định (không đặt ra yêu cầu này đối với lao động công ích và lao động tu sửa, làm xanh sạch đẹp trường lớp)

7. Điều chỉnh lại nội dung “Dạy nghề” theo hướng giảm “yêu cầu đào tạo nghề nghiệp” xuống yêu cầu “ giáo dục tiền nghề nghiệp” bước đầu làm quen với một số ngành nghề chủ yếu: có hiểu biết về một số nguyên vật liệu thông dụng, có kỹ năng sử dụng một số công cụ đơn giản, thông thường; biết tổ chức công việc và chỗ làm việc theo phong cách lao động công nghiệp, nhằm mục đích là hướng nghiệp.

8. GDHN được thực hiện chủ yếu thông qua GDLĐ kỹ thuật ngành, nghề và giáo dục tiền nghề nghiệp. Do vậy nội dung GDHN được hoàn thiện theo hướng: tích hợp với nội dung GD lao động kỹ thuật theo ngành, nghề và nội dung giáo dục tiền nghề nghiệp

9. Hoàn thiện nội dung GDCD theo hướng tích hợp với nội dung giáo dục đạo đức lối sống, GD ĐP , GDHN.

10. Hoàn thiện nội dung GDNGLL theo hướng tích hợp với nội dung GDCD, GD ĐP, giáo dục môi trường, GDKHXH - lịch sử, GDHN, GDKT-CN

11. Bổ sung, trang bị lại cơ sở vật chất- kỹ thuật phục vụ các hoạt động dạy học- giáo dục - đào tạo theo hướng hiện đại hóa từng bước.

12. Tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ sở kinh tế - kỹ thuật ở địa phương, sử dụng thêm các cơ sở vật chất – kỹ thuật ngoài nhà trường với mức độ phù hợp và bằng cách thích hợp với các điều kiện của các cơ sở kinh tế - kỹ thuật đó để tổ chức các hoạt động GD- ĐT

13. Đặc biệt coi trọng việc đổi mới, cải tiến phương pháp, hình thức tổ chức dạy - học - giáo dục - đào tạo. Phát huy những yếu tố tích cực một cách phù hợp, hiệu quả các PPDH truyền thống, kiểu dạy kiểu học; các hình thức tổ chức dạy học; môi trường, các thiết bị dạy học; quan điểm, cách thức kiểm tra, thi cử mà Bắc Lý đã từng triển khai; đồng thời thực hiện đổi mới về hình thức, môi trường, trang thiết bị và các PPDH theo hướng đa dạng, đồng bộ, hiện đại, phù hợp. Trước hết là hình thức dạy - học ở các phòng bộ môn, vườn trường theo các hướng sau:

+ Tăng cường sử dụng các trang thiết bị - kỹ thuật hiện đại, công nghệ thông tin, điện tử, kết hợp với việc sử dụng các mẫu vật, đồ dùng tự sưu tầm, tự chế tạo và phấn bảng.

+ Kết hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các yêu cầu: cung cấp, khám phá kiến thức - rèn luyện kỹ năng - phát triển trí tuệ - phát triển năng lực sáng tạo - hình thành phương pháp học tập, đặc biệt là tự học.

+ Kết hợp chặt chẽ học với hành và hoạt động thực tiễn ở trong và ngoài lớp, ngoài trường.

+ Kết hợp chặt chẽ hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò, giải quyết tốt mối quan hệ thầy - trò.

14. Đổi mới kiểm tra đánh giá, cải tiến đánh giá chất lượng, hiệu quả GD - ĐT theo hướng đánh giá toàn diện các yêu cầu( kiến thức, kỹ năng, phát triển trí tuệ, năng lực sáng tạo, tinh thần thái độ) của các mặt hoạt động GD - ĐT (GDCD, GDVH - KH, GDKT-CN, GDLĐ, GDHN, GDTNN, … )

15. Cải tiến công tác quản lý nhà trường theo các hướng sau:

+ Nắm vững mục tiêu quản lý là nâng cao chất lượng GD- ĐT con người theo mục tiêu GD- ĐT cấp THCS( không phải chỉ là nâng cao chất lượng GD- ĐT văn hóa - khoa học, mặc dù vẫn rất quan tâm)

+ Tăng cường phân cấp quản lý, tăng quyền chủ động (tự chủ), đồng thời nâng cao năng lực thực hiện cho các tổ, nhóm chuyên môn, các tổ công tác và các cá nhân, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, đặc biệt nâng cao vai trò của các tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện kỷ cương nề nếp. VD: vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc tổ chức, phối hợp giáo dục toàn diện, quản lý học sinh, thay đổi cục diện, tư tưởng, không khí làm việc, tinh thần quyết tâm của lớp, hình thành và tổ chức hoạt động nhóm… nhằm thay đổi chất lượng giáo dục.

+ Thúc đẩy hoạt động cải tiến nội dung, phương pháp tổ chức GD-ĐT, củng cố, duy trì, xây dựng nề nếp dạy - học - GD - ĐT, sinh hoạt tổ chuyên môn - nghiệp vụ, tổ chủ nhiệm, hội đồng giáo dục.

+ Duy trì thường xuyên, cân đối, có hiệu quả tất cả hoạt động GD - ĐT theo đúng kế hoạch năm học và phương hướng, phương thức GD - ĐT đã xác định.

+ Coi trọng và thực hiện đúng kế hoạch kiểm tra - thanh tra thường xuyên và đột xuất, toàn diện và từng mặt các hoạt động dạy - học - giáo dục - đào tạo của ban giám hiệu, tổ chuyên môn. Thực hiện dân chủ công khai công bằng, khách quan trong kiểm tra - thanh tra - đánh giá. Rút kinh nghiệm, động viên, khen thưởng, điều chỉnh kịp thời.

+ Tiến hành thường xuyên và định kỳ việc đúc rút, tổng kết( từng mặt, toàn diện) phổ biến áp dụng kinh nghiệm dạy - hoc - giáo dục đào tạo.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua gắn với việc đổi mới giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh.

                                                                  Bắc lý, tháng 3 năm 2014

Xã hội hóa giáo dục

đăng 05:23, 16 thg 3, 2014 bởi THCS Bắc Lý


XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG,
GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRẺ EM, HỌC SINH

                                               Ngô Văn Hằng - Hiệu trưởng trường THCS Bắc Lý

Trường THCS Bắc Lý, nơi khởi nguồn của phong trào thi đua "Hai tốt" - đơn vị hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, được thành lập năm 1953, ra đời và phát triển trong thời kỳ cách mạng, được tiếp nhận những mạch nguồn truyền thống tốt đẹp của quê hương Lý Nhân. Trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển, các thế hệ giáo viên và học sinh của nhà trường đã không ngừng phấn đấu đưa trường Bắc Lý ngày càng phát triển đi lên. Từ thực tế hoạt động giáo dục của mình, trường Bắc Lý đã đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm trong phong trào xây dựng nhà trường Tiên tiến và phong trào thi đua Hai tốt. Một trong những bài học kinh nghiệm đó là bài học về xã hội hoá giáo dục với việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục trẻ em, học sinh. Thực hiện tốt việc xây dựng, phối hợp ba môi trường giáo dục: Nhà trường - Gia đình - Xã hội sẽ tạo điều kiện  cho học sinh được giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc; từ trong gia đình đến nhà trường và ngoài xã hội.

 Vấn đề thứ nhất: Xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường.

Đây là môi trường giáo dục quan trọng nhất, hiệu quả nhất. Bởi vì, nhà trường là nơi học sinh hàng ngày đến hoc tập, rèn luyện dưới sự dạy dỗ, chăm sóc của các thầy cô giáo cùng sự gắn bó, giúp đỡ, chia xẻ của bạn bè; là nơi các em bộc lộ nhân cách, tài năng rõ nét nhất. Trong xây dựng môi trường nhà trường, chúng tôi tập trung vào các nội dung sau:

* Thứ nhất: Xây dựng cơ sở vật chất cảnh quan trường lớp: Chúng tôi quan niệm rằng: Xây dựng cơ sở vật chất cảnh quan trường lớp không đơn thuần chỉ là việc xây dựng, mua sắm mà vấn đề mang ý nghĩa giáo dục ở đây là tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động để cùng tạo nên, gữ gìn, cảm nhận, sử dụng cảnh quan vào mục đích giáo dục. Bằng sự  cố gắng, nỗ lực huy động các nguồn lực từ Trung ương đến địa phương. Trong 7 năm qua (2004 - 2011) cơ sở vật chất nhà trường được xây dựng bổ sung tăng cường, chỉnh trang đảm bảo khang trang hơn.

            Trong điều kiện khuôn viên nhà trường còn hạn chế so với nhu cầu phát triển, các phòng học bộ môn, Thư viện đã không còn đáp ứng với tiêu chuẩn mới, nhà trường đã huy động các nguồn kinh phí để xây dựng, sửa chữa các công trình như, đường chạy, sân tập, nhà Đa năng, nhà vệ sinh; cải tạo cảnh quan, bổ sung cây xanh; chỉnh trang sơn sửa các công trình, dùng 1 phòng học để bố trí phòng đọc cho học sinh; cải tạo và bổ sung trang thiết bị 3 phòng học bộ môn: Vật lý, Hoá học Sinh học đáp ứng yêu cầu hiện tại cho việc giảng dạy và tổ chức các hoạt động. Trong việc xây dựng cơ sở vật chất cảnh quan, hằng năm, nhà trường  đã huy động phụ huynh học sinh lớp 6 và học sinh khối 7,8,9 cùng lao động như: Vận chuyển đất cát, vật liệu phế thải phục vụ san lấp; bổ sung đất mầu vào vườn ươm, bồn cây; vun xới, cắt tỉa xanh, cây cảnh; lau chùi tẩy trang  tường, bàn ghế, thiết bị nội thất, vận chuyển, lau chùi, xắp xếp trang thiết bị dạy học; thông rửa công trình vệ sinh, bể lọc… ( Trung bình hằng năm huy động 320- 350 công lao đông phụ huynh). Trong năm học, nhà trường phân công cụ thể các lớp, các đội chuyên  phụ trách việc chăm sóc, vun xới, cắt tỉa cây xanh, cây cảnh cây trong vườn Sinh học, hạn chế việc thuê thợ. Tổ chức cho học sinh làm vệ sinh hằng ngày, giữ vệ sinh chung suốt buổi. Định kì tổ chức tẩy trang bàn ghế, tổng vệ sinh chung. Đoàn thanh niên tổ chức cho học sinh lớp 9 đánh tỉa, trồng cây xanh, cây cảnh vào dịp đầu xuân. Những việc làm tuy nhỏ xong, khi được trực tiếp tham gia lao động, các em biết trân trọng những thành quả và sức lao động của chính mình và của bố mẹ, vì thế đã hình thành trong các em ý thức trách nhiệm giữ gìn vệ sinh, bảo vệ cảnh quan chung.

* Thứ hai: Xây dựng mối quan hệ thầy trò: Trong quá trình giáo dục học sinh, quan hệ thầy trò là quan hệ  thể hiện tình thương yêu và tinh thần trách nhiệm. Ở trường Bắc Lý, tình cảm yêu thương học sinh luôn luôn được tất cả các thầy cô giáo giữ gìn, phát huy. Nêu cao ý thức trách nhiệm, tình thương yêu, chăm lo, giúp đỡ học sinh đã trở thành nếp suy nghĩ và hành động của giáo viên Bắc Lý, với tinh thần “Tất cả vì học sinh thân yêu”; những gương sáng tiêu biểu về quan hệ thầy trò ở Bắc Lý của các nhà giáo thế hệ đi trước vẫn được giữ gìn và nhân rộng trong mối quan hệ thầy trò Bắc Lý hôm nay. Học sinh Bắc Lý luôn nhận được từ các thầy cô giáo sự chăm sóc tận tình, ân cần, chu đáo; điều đó thể hiện trơng việc giáo dục nhân cách, trong giảng dạy - tổ chức nhận thức và cả trong chia sẻ cuộc sống đời thường.

Trước những đổi thay của xã hội, để giữ gìn mối quan hệ thầy trò, chúng tôi quan tâm những vấn đề sau: tránh thương mại hoá giáo dục, việc tổ chức dạy thêm, học thêm phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng của phụ huynh, học sinh và để đáp ứng yêu cầu thực sự của sự phát triển, công tác quản lý đảm bảo chặt chẽ, công khai, dân chủ. Trong đánh giá, xếp loại học sinh đảm bảo công bằng, chính xác. Nhà trường tổ chức, phát động nhiều hoạt động để mối quan hệ thầy trò được cụ thể hơn, sinh động hơn như: Mỗi giáo viên nhà trường nhận giúp đỡ một học sinh có khó khăn( về kinh tế hoặc về tâm lý, mất cân bằng về gia đình hoặc hạn chế về mặt nhận thức, ý thức rèn luyện); Vì vậy, mà học sinh Bắc Lý càng tin yêu, kính trọng thầy, cô giáo của mình.

* Thứ ba: Xây dựng mối quan hệ giữa học sinh với học sinh : Bên cạnh sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong nhà trường, học sinh còn được sống cùng các bạn, học tập, rèn luyện trong tập thể lớp, tập thể trường… cho nên xây dựng, củng cố  tốt mối quan hệ tình cảm, bạn bè sẽ làm cho các em đồng cảm, đoàn kết gắn bó với nhau hơn. Quan hệ bạn bè của học sinh Bắc Lý được xây dựng trên cơ sở chân thành, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Những hình thức tổ chức: “Đôi bạn giúp nhau, nhóm bạn giúp nhau, hòm thư giúp bạn, các Câu lạc bộ giáo dục kĩ năng sống …”, được duy trì. Những gương điển hình của học sinh Bắc lý đã phát huy tác dụng tốt trong tập thể. Học sinh Bắc Lý rất có ý thức hoà nhập vào tập thể, sống theo tinh thần “Mình vì mọi người”. Biết phát huy vai trò, trách nhiệm của bản thân trong tập thể, gắn bó và tích cực xây dựng tập thể vững mạnh.

Ba mối quan hệ: Thầy trò với cơ sở vật chất, cảnh quan thiên nhiên; thầy với trò; trò với trò, luôn được thầy trò nhà trường nuôi dưỡng, cùng với việc xây dựng, thực hiện quy tắc ứng xử đã hình thành nét văn hóa nhà trường,  đã tạo được bầu không khí tâm lý đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, cùng quyết tâm gìn giữ và phát huy truyền thống nhà trường; điều đó thể hiện trong quá trình rèn luyện, học tập thường xuyên, trong văn hoá ứng xử. Học sinh yêu trường, kính thầy, mến bạn, ham mê, mong muốn đến trường.

*Vấn đề thứ hai: Xây dựng môi trường giáo dục gia đình.

Môi trường gia  đình là môi trường giáo dục hỗ trợ tích cực trong quá trình giáo dục, rèn luyện học sinh. Phần lớn thời gian các em sống, rèn luyện, phát triển tại gia đình. Ở nhà các em được tiếp nhận sự tác động giáo dục của bố, mẹ, ông, bà, anh, chị, em. Trong nhiều năm qua, trường THCS Bắc Lý rất quan tâm tới việc  phối hợp giáo dục gia đình. Nét đặc thù của trường Bắc Lý là nhà trường thường  tổ chức giáo viên xuống thôn xóm kết hợp với Ban giáo dục thôn đến các gia đình học sinh để nắm bắt gia cảnh, trao đổi với gia đình, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện. Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề kết hợp giáo dục gia đình nhà trường đặc biệt quan tâm đó là:

1. Số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt có chiều hướng gia tăng, học sinh có bố hoặc mẹ ( Hoặc cả bố mẹ) đi làm xa, đi nước ngoài; bố mẹ li hôn, bố mẹ mất sớm, bố mẹ mắc tệ nạn xã hội; các em chỉ được sống với bố hoặc mẹ, hoặc phải sống với ông bà, cô gì chú bác; trong số này, một số em được bố mẹ thiếu sự quan tâm kèm cặp dạy dỗ, uốn nắn của bố mẹ.

2. Học sinh sớm phát triển về cơ thể, tâm sinh lý và tình cảm nam nữ, ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập, rèn luyện.

3. Một số phụ huynh quá ham làm kinh tế, chưa quan tâm đúng mức hoặc quan tâm không đúng cách đến việc học tập của con cái. 

Đối với các em này, nhà trường nắm trắc hoàn cảnh, cá tính, thói quen, tâm tư, diễn biến tình cảm của các em, tạo điều kiện để các em bộc lộ tâm tư, vướng mắc từ đó định hướng cho các em, đồng thời kết  với người giám hộ tăng cường quản lý, thường xuyên kèm cặp, nắm lộ trình, việc làm hàng ngày để kịp thời uốn nắn, việc xuống xóm buổi tối chúng tôi cũng tập trung ưu tiên nhóm học sinh trên. đồng thời, nhà trường tổ chức truyền thông, trao đổi lồng ghép hoặc tổ chức chuyên đề trước cả phụ huynh và học sinh về giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên.

* Vấn đề thứ ba: Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, hạn chế những tác động xấu của môi trường xã hội đối với thiếu niên, học sinh.

            Nhà trường là một bộ phận của cộng đồng xã hội, nên việc gắn và hoà nhập hoạt động của nhà trường với cuộc sống cộng đồng là lẽ tất yếu. Môi trường xã hội có vai trò to lớn tác động vào hiệu quả giáo dục. Ở Bắc Lý, “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” đã trở thành nguyên tắc hành động của tất cả giáo viên. Để phát huy thế mạnh môi trường xã hội địa phương, nhà trường cùng với các trường trên địa bàn xã trong xã tích cực tham mưu với các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể ở địa phương cùng tham gia xây dựng một môi trường xã hội lành mạnh. Cụ thể: Đối với Đảng uỷ, HĐND, UBND xã, trong các nghị quyết đại hội, nghị quyết hàng kỳ, đều có nội dung bàn về sự nghiệp giáo dục, đồng thời cùng hệ thống chính quyền chỉ đạo các tổ chức đoàn thể cùng vào cuộc, cùng kiểm tra đôn đốc việc thực hiện xây dựng cuộc sống lành mạnh ở địa phương. Ở xã Bắc Lý từ những năm 1990 đã tiến hành đại hội giáo dục cấp xã (tới nay qua 5 kỳ đại hội). Sau các kỳ đại hội, Hội đồng giáo dục  hoạt động tích cực; dưới hội đồng giáo dục xã còn có các Ban giáo dục thôn. Phong trào xây dựng đời sống văn hoá, phong trào khuyến học trong các dòng họ, dưới thôn xóm được đẩy mạnh. Tất cả các tổ chức, đoàn thể trên cùng hoạt động góp phần làm cho môi trường xã hội thêm lành mạnh.

Những hoạt động  phối hợp cụ thể là: Tổ chức cho học sinh chăm sóc mẹ Việt nam Anh hùng, lao động dọn cỏ, làm vệ sinh nghĩa trang Liệt sĩ, làm vệ sinh đường làng ngõ xóm, các di tích lịch sử, văn hóa (Đình Nội Rối, Yên Trạch…), giáo viên xuống xóm tham gia tổ chức cho Thiếu niên luyện tập, sinh hoạt trại thu vào buổi tối; tham gia các hoạt động văn hóa địa phương như dàn trống hội tham gia đại hội TDTT, Lễ hội Đền Trần Thương…

Hiện nay trước sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội, công nghệ thông tin và truyền thông, bên cạnh những tác động tích cực thì cũng có không ít những tác động xấu của môi trường xã hội trong việc giáo dục học sinh, môi trường xã hội giờ đây không đơn thuần là những gì tồn tại, diễn ra trên địa bàn hành chính, địa lý cụ thể học sinh tham gia hoạt động mà giờ đây, môi trường xã hội bao gồm những vấn đề rộng lớn hơn, như thế giới ảo trên mạng Internet, mạng Viễn thông thông và tất cả những gì học sinh được tiếp cận thông qua truyền hình, các phương tiện nghe nhìn, báo chí, tranh ảnh…Các nhà trường đang phải đối mặt với những vấ đề như học sinh bỏ học, say trò chơi điện tử và mạng Internet, bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, lợi dụng tình dục, bạo lực, tình cảm quan hệ nam nữ…Trước tình hình đó, cần có những quan điểm và giải pháp phù hợp, đáp ứng tình hình và điều kiện mới. Một điều không thể phủ nhận là hiện tại, một số vấn đề không lành mạnh của môi trường xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục có những tác động xấu đến giáo dục thiếu niên, học sinh. Vì vậy, đi đôi với việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, cần phải có những giải pháp kịp thời nhằm ngăn chặn, hạn chế những tác động xấu của môi trường xã hội đối với thiếu niên, học sinh. Về vấn đề này, nhà trường có những giải pháp sau:

            1.Tích cực tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền tăng cường quản lý, giám sát, nhắc nhở các cơ sở kinh doanh dịch vụ Văn hóa ( quán cà phê, quán hát), quán Internet trên địa bàn về mặt thời gian, nội dung và đối tượng phục vụ; huy động toàn bộ hệ thống chính trị cùng toàn thể nhân dân tham gia phòng chống tệ nạn xã hội. Nhà trường trực tiếp liên hệ, trao đổi với các chủ quán Internet trên địa bàn.

            2. Tích cực tuyên truyền trong các hội nghị của Đảng, chính quyền, các ngành đoàn thể, các cuộc họp phụ huynh về những vấn đề cụ thể các nhà trường đang cần sự giúp đỡ, hỗ trợ.

            3. Khơi dậy và kích thích sức mạnh của dư luận quần chúng, dư luận tập thể ( làng xóm, dòng họ, các đoàn thể, các hội…) để đấu tranh, bài trừ, tẩy tray tệ nạn xã hội, những hành vi ứng xử thiếu văn hóa.

5. Có những giải pháp cụ thể để hạn chế ảnh hưởng xấu của môi trường xã hội đến học sinh.

Thứ nhất: Tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, kĩ năng sống, khả năng thích ứng khả năng tự bảo vệ bản thân trước những vấn đề phức tạp của xã hội.

Thứ hai: Lôi cuốn học sinh vào các hoạt động trong nhà trường, khai thác hiệu quả hoạt động Tư viện, hình thành thói quen đọc sách, văn hóa đọc cho học sinh ( học sinh khối 6,7 có tiết đọc sách đưa vào Thời khóa biểu, khối 8,9 vào các buổi chiều)

Thứ hai: Tăng cường các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn học sinh tiếp cận với những môi trường không lành mạnh.

Thứ ba: Phát hiện, xử lý, giải quyết kịp thời, triệt để những trường hợp học sinh mắc sai lầm, khuyết điểm và tiếp tục theo dõi, đánh giá sự tiến bộ sau xử lý.

            Tóm lại: Với việc phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường – Gia đình – Xã hội đã tạo ra được vòng tròn khép kín trong quá trình giáo dục trẻ em, học sinh. Kết quả việc phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình – Xã hội trong công tác giáo dục trẻ em, học sinh cùng với những thành tích về xã hội hoá giáo dục đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ các năm học và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường, cụ thể là:

            - Chất lượng đạo đức: Qua các năm đều đảm bảo 100% học sinh đạt yêu cầu. Trong đó có 98,5%  đạt hạnh kiểm khá và tốt. Không có học sinh vi phạm các tện nạn xã hội.

            - Chất lượng văn hoá: đạt kết quả 97,5% học sinh lên lớp thẳng. Trong đó có 45-50% đạt học lực khá giỏi. Tốt nghiệp THCS các năm đều đạt 99,8 – 100%%. Thi vào các trường PTTH đạt từ 82-87%

            - Về chất lượng học sinh giỏi: hằng năm, cấp huyện thường xếp thứ nhì đồng đội, có từ 6 – 15 học sinh đạt giải cấp tỉnh. 

            - Chất lượng các mặt hoạt động khác như lao động hướng nghiệp dạy nghề, giáo dục thể chất, thẩm mỹ đều được xếp loại tốt. Trường được công nhận cơ sở giáo dục dạt tiêu chuẩn chất lượng cấp độ ba.

Trước những yêu cầu của thời kỳ đổi mới với xu thế hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, để sự nghiệp giáo dục của huyện nhà nói chung và trường THCS Bắc Lý nói riêng có những bước phát triển mới, tôi trân trọng đề nghị các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền, các ngành đoàn thể, Hội đồng giáo dục huyện nhiệm kì 2011-2016 quan tâm hơn nữa đến vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội, xây dựng môi trường xã hội  thực sự lành mạnh. Quan tâm,  giúp đỡ trường Bắc Lý thực hiện đề án mở rộng khuôn viên nhà trường.

Phát huy truyền thống nhà trường, thày trò trường THCS Bắc Lý  quyết tâm giữ gìn, phát huy truyền thống đơn vị lá cờ đầu của ngành Giáo dục và Đào tạo. Kiên trì mục tiêu giáo dục toàn diện. Tăng cường giáo dục đạo đức, nhân cách và hình thành kỹ năng sống cho học sinh. Nâng cao chất lượng trí dục, kết hợp việc giảng dạy với thực tế sản xuất và hoạt động xã hội, làm tốt công tác hướng nghiệp, dạy nghề. Từ đó, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện với giải pháp: Xây dựng tập thể đoàn kết, nhất trí, triển khai hiệu quả việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục thiếu niên, học sinh.   

                                                                                                Tháng 8/2012

1-4 of 4